Nhiều tháng sau, trong một căn nhà thuê ở Hà Tiên, cửa mở ra phía vịnh, Vũ Thế Dinh trải một trang giấy trắng lên bàn và lấy chì kẻ sẵn một cột hẹp bên phải trước khi viết chữ nào.
Căn nhà nhỏ, chỉ đủ một bộ bàn ghế, một cái phản, và một góc để tráp đồ. Ông thuê nó vì nó có cửa nhìn ra được mặt vịnh, không vì lý do nào khác. Chủ nhà cũ để lại một cái kệ gỗ đóng tạm ở góc tường, đủ xếp vài chục cuốn sổ nếu sau này có, và ông đã nhìn cái kệ trống ấy nhiều hơn nhìn bất cứ thứ gì khác trong nhà từ ngày dọn tới.
Ông được thả ra khỏi Thonburi vào mùa khô, đi đường bộ một đoạn rồi đường thủy phần còn lại. Suốt chuyến đi, ông không nói chuyện nhiều với ai cùng đường, chỉ ngồi ở mũi thuyền nhìn nước, tay giữ chặt bọc giấy cũ trong vạt áo như sợ sóng hắt ướt mất.
Bến Hà Tiên ông về không còn giống bến ông rời đi. Vài dãy nhà cháy cũ đã dựng lại, mái mới còn thơm mùi lá tranh chưa ngả màu, và những người ông từng biết mặt phần lớn đã không còn ở đó nữa, người chết, người dời đi nơi khác lập nghiệp. Ông đi qua khu chợ cũ hai lần trước khi nhận ra chỗ đứng của mình, dừng lại thật lâu ở một góc từng là sạp bán mắm, giờ chỉ còn nền đất trống.
Về tới nơi, việc đầu tiên ông làm không phải thăm ai, mà là ra chợ mua giấy.
Người bán giấy hỏi ông mua để làm gì. Ông không trả lời được ngay, đứng một lúc mới nói: để viết. Bà bán giấy không hỏi thêm, cân giấy theo tệp mười tờ, gói lại bằng một sợi lạt.
Vốn liếng của ông ít tới mức đau. Mấy tờ giấy cũ gấp trong áo suốt chuyến về, một bó que tre khắc vạch xin được của người thư lại trước ngày rời ngục, và trí nhớ về một đêm không có đèn. Ông xếp cả ba thứ ấy lên góc bàn, theo đúng thứ tự ấy, trước khi bày giấy mới ra trải.
Có một vật ông không mang về được. Cây bàn tính gỗ mun của ông nội nuôi, cạnh gỗ khắc bảy nhóm nét nhỏ, mỗi nhóm ứng với một bến trong bảy bến ngày xưa, đã mất tăm từ đêm thành cháy, không ai còn nhớ rõ nó trôi dạt về đâu. Ông không có nó để đặt lên bàn, nhưng cách chia bảy nhóm ấy vẫn còn nguyên trong đầu, và ông tự nhủ sẽ chia cuốn gia phả này theo đúng bảy phần, mỗi phần một quãng đời, như cách người xưa vẫn tách một cái bến ra khỏi một cái bến khác trên một thanh gỗ không ai ngoài người trong nghề đọc được.
Ông ngồi xuống bàn, chấm bút, thử viết từ giữa câu chuyện, từ cái đêm không đèn trong gian giam. Viết được vài chữ thì bỏ, gạch chéo cả dòng. Bắt đầu từ đó thì phải giải thích quá nhiều thứ trước nó, và giải thích trước là việc ông không đủ sức làm ngay lúc này.
Ông thử lần thứ hai, bắt đầu từ ngày rời khỏi ngục Thonburi. Viết được nửa trang thì dừng, đọc lại, và thấy nó giống một tờ tường trình hơn một cuốn gia phả. Ông gạch chéo trang ấy luôn, để riêng sang một bên chứ không vo tròn vứt đi.
Ông không biết nên bắt đầu từ năm 1780 rồi lùi lại, hay bắt đầu từ đầu rồi đi tới. Hai cách đều có lý, và cả hai đều làm ông ngồi im không viết thêm chữ nào một lúc lâu.
Ngoài cửa, có mấy chiếc thuyền câu đang neo gần bờ, người trên thuyền vá lưới, tiếng gõ mái chèo lộp cộp đều đặn. Ông nhìn ra đó không phải để tìm ý, mà vì mắt cần một chỗ để dừng lại trong lúc đầu óc còn rối.
Gió từ vịnh thổi vào làm mép giấy cong lên. Ông lấy một đoạn que tre chặn lên góc giấy cho khỏi bay.
Nghiên mực để lâu đã khô mặt, ông mài lại từ đầu, xoay thỏi mực chầm chậm theo vòng tròn, nước mực loãng dần rồi sậm lại, tới đúng độ đen ông quen dùng khi chép sổ hồi còn nhỏ.
Ông thử nói thành lời, rất khẽ, chỉ để chính mình nghe, giọng còn khàn vì lâu ngày ít nói chuyện với ai.
"Sổ sách không bao giờ sai, chỉ có người đọc sai."
Đó là câu ông đã chép lại hàng trăm lần hồi còn nhỏ, chép nguyên văn từ những trang sổ cũ, mà chưa một lần nói ra thành tiếng. Hồi ấy ông chỉ chép cho đúng nét, không hiểu hết nghĩa. Nói ra bây giờ, giữa một căn phòng trống và một trang giấy chưa có chữ nào, ông mới nghe được hết trọng lượng của nó.
Nói xong, ông ngồi yên, và hiểu ra một điều khác hẳn điều ông tưởng lúc cầm bút lên.
Việc của ông không phải là kể cho đúng.
Việc của ông là chép cho đủ, kể cả những phần ông không biết.
Ông đặt bút xuống bàn một lúc, xoa hai bàn tay vào nhau cho ấm, vì gian phòng buổi chiều đã bắt đầu lạnh hơn, rồi cầm bút lại.
Ông nghĩ tới cuốn sổ trắng, tới cái tên chưa từng có, tới một hội ở ngoài Bắc mà ông chỉ nghe qua một đêm không đèn và không bao giờ hỏi thêm được nữa. Những chỗ ấy, ông sẽ để trống. Để trống đúng như đã được dặn, không phải vì lười tra, mà vì có những khoảng trống chỉ giữ được ý nghĩa khi không ai lấp đầy chúng bằng phỏng đoán.
Ông quyết định bắt đầu từ đầu. Và cái đầu ấy không phải là Hà Tiên.
Cột trắng bên phải vẫn để nguyên như lúc kẻ xong đường chì, và sẽ còn để trắng như thế suốt cả cuốn sách ông sắp viết.
Ông chấm bút lần nữa, kéo trang giấy lại ngay ngắn trước mặt, chỉnh lại thanh que tre chặn góc giấy cho thẳng hàng với mép bàn.
Rồi ông viết dòng thứ nhất, nét chữ đầu tiên của cuốn sổ mới.
"Năm Nhâm Dần, ở thôn Lê Quách đất Lôi Châu, có một đứa bé bảy tuổi ngồi bên cha nó, học đọc một cuốn sổ nợ."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.