Bút lông của Tài Sềnh cùn tới mức phải chấm mực hai lần mới đi hết một dòng.

Mạc Cửu ngồi xổm trên sạp ghe, hai đầu gối kẹp lấy cuốn sổ, chép từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người. Sương đọng thành hạt trên mui lá, thỉnh thoảng một hạt rơi xuống mặt giấy và cậu phải chặm ngay bằng vạt áo trước khi mực kịp loang. Ngã tư sông đã họp chợ từ trước đó lâu. Ghe chở dừa nước, ghe chở chuối còn nguyên buồng, ghe bán cháo có bếp than đặt trên một tấm gạch giữa khoang, tất cả chống sào len qua nhau, va nhẹ vào be rồi lại đẩy ra.

Dưới sàn ghe có ba cái lu sành ủ mắm bò hóc, đậy lá chuối, buộc lạt hai vòng. Cái mùi từ đó không dữ dội như mùi mắm phơi ngoài nắng. Nó âm ỉ, ngấm vào ván, vào tóc, vào cả tay áo, và tới ngày thứ ba thì cậu không còn ngửi thấy nó nữa, đó mới là chỗ đáng ngại.

Cá khô xếp trên sạp thành bó mười con, buộc bằng lạt tre chẻ mỏng, bó lớn bó nhỏ khác giá và không bao giờ trộn chung.

"Chép được mấy trang rồi?"

Tài Sềnh đứng trên mui, tay chống nạnh, nói xuống bằng tiếng Triều Châu. Ông ta người thấp, vai dày, cổ áo mở phanh, và có tật vừa nói vừa hất cằm về phía vật mình đang nhắc tới.

"Mười một ạ."

"Người ta chép mười lăm."

"Người ta có bến bảo lãnh." Cậu không ngẩng lên. "Ông trả người ta bao nhiêu?"

Tài Sềnh cười một tiếng trong họng, không đáp, rồi bỏ đi ra đằng mũi cãi giá với một ghe chở cá tươi.

Ông ta là người hỏi cậu câu hỏi ấy ngoài bến cửa biển, lúc cậu đang ngồi viết mấy chữ lên vạt vải dưới gốc me tây. Hỏi xong thì bảo cậu xuống ghe, và ngược sông mất mười một ngày. Lên tới chợ nổi ông ta mới nói giá: người không có bến nào bảo lãnh thì công một nửa, và trả vào cuối tháng chứ không trả từng ngày. Cậu nhận, vì trên sạp ghe này có mái và có chỗ nằm khô.

Sổ nhập hàng của vựa ghi theo lối cũ, ghi theo người mang tới chứ không ghi theo chuyến. Ai vác bó cá lên sạp thì tên người ấy đứng đầu dòng.

Sang trang thứ chín, cậu dừng bút.

Ngày mười tám tháng tư, dòng thứ hai: A Hỷ, bốn trăm bó, cá sặc loại vừa, trả tiền mặt. Trang thứ mười hai, ngày cũng mười tám tháng tư, dòng thứ năm: ghe Prek Chrey, bốn trăm bó, cá sặc loại vừa, trả tiền mặt.

Cùng ngày. Cùng số bó. Cùng loại cá. Hai cái tên khác nhau và hai lần trả tiền.

Cậu để bút xuống, chống tay đứng dậy, và đi ra kho.

Kho là hai gian nhà sàn thấp dựng sát bờ, sàn kê cao hơn mặt nước chừng ba thước, vách phên hở để gió lùa cho cá khỏi ẩm. Cậu đếm bó theo hàng, mỗi hàng ba mươi, đếm bằng cách chạm ngón tay vào từng bó chứ không đếm bằng mắt vì đếm bằng mắt thì hai hàng cuối bao giờ cũng sai. Đếm hết hai gian mất gần một canh giờ.

Số bó trong kho ít hơn số bó trong sổ đúng bốn trăm.

Cậu ngồi xuống bậc cửa kho, hai bàn tay dính bụi muối, và nghĩ về việc ai là A Hỷ.

Cậu đã biết. Người ta chỉ cho cậu từ hôm thứ hai, lúc ông ta lên sạp lấy tiền: em rể Tài Sềnh, có ghe riêng, chuyên gom cá dưới Prek Chrey chở lên. Người trong vựa gọi ông ta bằng cậu, ngay cả những người hơn tuổi.

Trưa, nắng dựng đứng, mặt sông sáng lóa tới mức nhìn xuống thì nhức mắt.

Cậu quay lại sạp ghe, mài lại mực, và không chép tiếp trang mười ba.

Cậu chép lại từ trang một.

Cậu chép nguyên văn, không sửa một chữ nào, không bỏ một dòng nào. Chỉ khác một chỗ: bên phải mỗi dòng, chừa ra một cột hẹp bằng hai đốt ngón tay, cậu ghi thêm tên cái bến mà bó cá ấy xuất phát. Có dòng cậu biết ngay, có dòng phải xuống hỏi mấy người vác thuê, và có bốn dòng không ai nhớ nổi nên cậu để trống.

Ghi hết cột ấy thì hai dòng ngày mười tám tháng tư rơi về cùng một chỗ. Prek Chrey. Prek Chrey.

Cậu không viết thêm chữ nào. Cậu không khoanh, không đánh dấu, không đặt một cái chấm mực nào bên cạnh.

Xế chiều Tài Sềnh lên sạp, ngồi bệt xuống, kéo cuốn sổ mới về phía mình.

Ông ta đọc chậm, ngón tay cái miết dọc theo mép giấy. Tới trang chín ông ta dừng. Ông ta không lật tiếp ngay. Ông ta lật ngược lại hai trang, rồi lật xuôi, rồi lật ngược lại lần nữa, đúng ba lượt như thế, và trong cả ba lượt ấy Mạc Cửu ngồi yên nhìn ra chỗ mấy đứa trẻ đang tát nước trong lòng một chiếc thúng lật.

"Cậu hỏi ai mà ra được cái cột này?"

"Cháu hỏi bốn người vác. Bốn dòng không ai nhớ thì cháu để trống ạ."

"Sao không hỏi tôi?"

"Ông không có mặt ở bến gốc."

Tài Sềnh gấp sổ lại. Ông ta ngồi im một lúc lâu, đủ lâu để một chiếc ghe chở lu sành đi ngang, chống sào ba nhát, rồi khuất sau đám ghe cháo.

Rồi ông ta thò tay vào cạp quần, rút ra một xâu tiền kẽm xỏ lạt, và đếm.

Ông ta đếm thành tiếng, đếm từng chục một, gạt sang bên trái từng nhúm. Đủ một tháng công. Không phải nửa, và không phải cuối tháng.

"Mai cậu khỏi tới."

"Cháu ghi sai chỗ nào ạ."

"Không sai chỗ nào." Tài Sềnh đặt xâu tiền lên nắp lu sành, đẩy về phía cậu bằng mu bàn tay, không chạm vào tiền lần thứ hai. "Người ghi đúng quá thì ai cũng ngại. Tôi cũng ngại."

Ông ta đứng dậy, cầm cuốn sổ cũ đi xuống khoang, và không mang theo cuốn sổ mới.

Mấy người vác dọn hàng từ lúc mặt trời còn cao. Tới lúc bóng cột kho ngả hết ra mặt nước thì trên sạp chỉ còn lại mấy sợi lạt tre đứt, một vệt muối trắng nơi bó cá vừa dỡ đi, và Mạc Cửu.

Cậu ngồi xổm, đổ xâu tiền ra lòng bàn tay, và đếm lại.

Cậu đếm hai lượt. Con số không đổi.

Đó là một con số cậu đã gặp rồi. Nó bằng đúng khoản một nhà ở xóm dưới còn nợ nhà cậu, cái khoản nằm ở tờ thứ tư, bên cạnh không có chấm, và đã cháy hết trong một hơi thở dài.

Cậu xỏ lạt lại, buộc hai vòng, và nhét sâu vào lớp trong cái túi vải.

Chú thích

[1] Nam Vang là thương cảng lớn nhất của Chân Lạp thế kỷ 17, nơi tụ họp thương nhân Hoa, Mã Lai, Chăm và Bồ Đào Nha; kinh đô triều đình khi ấy không đặt tại đây mà ở Oudong, phía bắc.

[2] Mắm bò hóc (prahok) làm từ cá nước ngọt giã nát, ướp muối và ủ trong lu sành nhiều tuần; là nguồn đạm dự trữ chính trong bữa ăn Khmer, đặc biệt sau mùa nước rút khi cá nhiều.

Hết Chương 21
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 22 →
← TrướcTiếp →