Tuần thứ hai mươi hai, tôi bỏ chạy khỏi một vụ.
Không phải ở xóm Rộc. Ở một chỗ khác, cách đấy hai chục cây, và cái vụ ấy thì không dính gì tới cái đàn.
Chuyện thế này.
Chị Lệ nhắn cho tôi rằng có người hỏi thăm. Một bà ở Thanh Trì, con dâu của một bà cụ mà tôi đã làm việc cho cách đây bốn năm.
Tôi gọi lại. Bà kể: nhà bà có một đứa cháu bốn tuổi, ba tháng nay đêm nào cũng dậy đúng một giờ và ngồi nói chuyện một mình ở góc nhà.
Tôi nghe xong thì tôi biết ngay đây là việc của nghề tôi. Loại này tôi làm mấy chục lần rồi. Trẻ con thì nhìn được, và cái chúng nó nói chuyện với thường là một con vong lẻ quanh quẩn ở đấy.
Tôi hẹn xuống vào tối thứ tư.
Tôi tới nhà ấy lúc bảy giờ. Một cái nhà ống ba tầng trong ngõ, mới xây, sàn gạch bóng.
Tôi ngồi hỏi chuyện chừng một tiếng, hỏi kỹ như tôi vẫn hỏi: nhà xây năm nào, đất mua của ai, trước đây chỗ này là gì.
Rồi tôi lên tầng hai, vào cái phòng thằng bé ngủ, và tôi nhìn.
Ở góc phòng, chỗ giáp hai bức tường, có một chỗ méo.
Một con vong lẻ, thấp, cao chừng ngang hông tôi.
Một đứa trẻ.
Tôi ngồi xuống sàn cách nó ba bước, và tôi bắt đầu làm cái việc tôi đã làm mấy trăm lần: ngồi im, nhìn chệch, chờ cho nó quen.
Rồi tôi để ý một chuyện.
Nó không nhìn tôi.
Nó nhìn ra cửa.
Tôi ngồi thêm mười phút và tôi hiểu ra nó đang nhìn cái gì: nó nhìn ra hành lang, chỗ cầu thang, và nó nhìn với cái tư thế của một đứa trẻ đang trông chừng.
Tôi quay đầu lại nhìn ra cửa.
Ở đầu cầu thang, trong bóng tối, có một chỗ méo khác.
Cái ấy cao.
Cao chừng hai mét.
Tôi phải viết chỗ này thật đúng, vì suốt mấy chục năm sau tôi vẫn không chắc mình đã nhìn đúng.
Cái đứng ở đầu cầu thang nhà ấy không giống cái ở ruộng Rộc.
Nó không có cùng hình dạng. Nó không cao đúng hai mét. Chung quanh nó không có cái nền méo nào cả.
Cái giống nhau chỉ có một: nó cao hơn người, và nó đứng yên nhìn.
Tôi ngồi trên sàn phòng thằng bé ấy chừng ba mươi giây.
Rồi tôi đứng dậy, xuống thang, và tôi bảo với người nhà rằng cháu phải về, có việc gấp.
Bà chủ nhà hỏi thế cháu tôi làm sao hả cậu.
Tôi bảo cháu chưa xem được, để cháu về xem lại rồi cháu gọi cho bác.
Bà bảo cậu ở lại ăn cơm.
Tôi bảo cháu bận.
Tôi ra khỏi cái nhà ấy trong vòng bốn phút, dắt xe, và tôi phóng một mạch về tới cầu Chương Dương mới dừng.
Từ chỗ tôi đứng bây giờ, đã qua rất nhiều năm và tôi đã đứng trước nhiều thứ tệ hơn nhiều, tôi vẫn cho rằng tối hôm ấy là lần hèn nhất của đời tôi.
Không phải vì tôi sợ.
Sợ thì đúng. Trong nghề này sợ là một thứ dùng được: sợ thì cẩn thận, sợ thì kiểm lại, sợ thì không làm ẩu.
Cái tôi làm tối hôm ấy không phải sợ.
Tôi biết trong cái nhà ấy có một đứa trẻ bốn tuổi ngủ ở tầng hai.
Tôi biết ở góc phòng nó có một con vong lẻ, và con vong lẻ ấy thì tôi gỡ được, gỡ trong hai tuần, không khó gì cả.
Tôi biết ở đầu cầu thang có một cái khác, và cái ấy tôi không biết là gì.
Và tôi đã chọn không tìm hiểu.
Tôi nói dối bà chủ nhà một câu để đi cho nhanh, và trên đường về tôi đã dựng xong ba lý do.
Lý do thứ nhất: mình chưa đủ hiểu, làm ẩu thì hỏng.
Lý do thứ hai: mình đang có việc ở xóm Rộc, mỗi tuần một chuyến, không rải sức ra được.
Lý do thứ ba, và đây là lý do tôi tin nhất: nếu cái ở đầu cầu thang là cùng loại với cái ở ruộng Rộc, thì tôi động vào là tôi lại làm hỏng thêm một chỗ nữa.
Ba lý do ấy đều đúng.
Tôi không gọi lại cho bà chủ nhà ấy.
Bà gọi cho tôi bốn lần trong hai tuần sau đó. Lần thứ nhất tôi bảo cháu đang bận, để cuối tuần. Lần thứ hai tôi bảo cháu ốm. Lần thứ ba và thứ tư tôi không nghe máy.
Rồi bà thôi gọi.
Mười một tháng sau, chị Lệ kể cho tôi nghe rằng cái nhà ấy đã bán nhà chuyển đi, chuyển gấp, bán rẻ.
Tôi hỏi thằng bé thế nào.
Chị bảo chị không biết.
Tôi không đi tìm.
Có một chỗ trong ba lý do ấy mà tôi phải mổ ra, vì nó là chỗ tinh vi nhất.
Lý do thứ ba nghe như một lý do đạo đức: mình động vào thì mình làm hỏng thêm.
Ba tháng trước, cái lý do ấy chưa tồn tại.
Nó chỉ ra đời sau đêm rằm tháng ba, sau khi tôi đứng ở bờ ruộng và đếm ra rằng bốn mươi lăm người đã quay về.
Từ đêm ấy, tôi có trong tay một thứ mà trước đó tôi không có: một bằng chứng rằng tôi có thể làm hỏng mọi thứ.
Và tôi phát hiện ra rằng cái bằng chứng ấy dùng được vào việc khác.
Nó dùng để không phải làm gì cả.
Người ta có thể lấy một sai lầm thật của mình ra để tự miễn cho mình mọi việc khó về sau, và cái hay của cách ấy là nó nghe rất giống khiêm tốn.
Trong sổ tôi, cái tối ấy chỉ có một dòng, ghi vào cuối trang, ghi rất nhỏ, giống hệt cái dòng tôi ghi bốn năm trước về một bát cơm dư ở Nam Định.
Dòng ấy viết: Thanh Trì, đầu cầu thang. Mình có nhìn thấy. Mình đi về.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 6 →