Nó đứng trước cái cửa cuốn ấy chừng hai mươi phút.
Không khí trước cửa kho méo đi thành một vệt, vệt ấy chạy ngang, rộng chừng bốn năm mét, cao ngang ngực người lớn.
Nó nhìn chệch đi, và nó đếm.
Đếm không được. Cái vệt ấy không tách ra thành từng con. Nó là một mảng liền, chỗ dày chỗ mỏng, và chỗ dày nhất thì ngay sát mép cửa cuốn.
Chúng nó không vào được trong kho.
Đấy là chuyện nó hiểu ra sau mười phút đứng nhìn.
Cái cửa cuốn đóng, mép dưới sát nền bê tông. Chúng nó không đi xuyên qua tường như trong phim người ta chiếu. Chúng nó đứng ngoài, sát mép, ở chỗ gần nhất mà chúng nó tới được.
Bên trong kho có bảy mươi hai cái hộp.
Bên ngoài cửa kho, đêm nào cũng có một mảng không khí méo đứng sát mép cửa.
Nó về nhà đêm ấy, và nó không ngủ.
Không phải vì sợ.
Vì trong đầu nó có một cái gì đó vừa lắp vào mà không khớp.
Suốt mười hai năm, nó vẫn hiểu thế này: cái xác nằm ở đâu thì cái phần kia đứng ở đấy. Thằng bé bến đò đứng ở bến. Chú Gầy đứng ở chân cầu. Bà Bủng đứng ở cuối hành lang khu tập thể.
Chúng nó đứng ở chỗ chúng nó rơi ra khỏi cái đời sống này.
Vậy tại sao mảng méo kia lại đứng trước cửa một cái kho ở khu đất ngoại thành, cách nghĩa địa của họ mấy chục cây số.
Nó nằm nghĩ tới hai giờ sáng, và cuối cùng nó tìm ra một câu trả lời.
Câu trả lời là: chúng nó không đứng ở chỗ chết. Chúng nó đứng ở chỗ có cái tên của mình.
Cái tên của một người vô danh, sau mấy chục năm, không còn nằm trong mồm ai nữa. Nó chỉ còn nằm ở đúng một chỗ: cái nấm đất, cái vị trí, cái khoảnh ruộng mà cả xóm gọi là mả hoang.
Bây giờ người ta bốc cái nấm ấy lên, cho vào hộp, đánh một con số, chở đi bảy mươi cây số.
Cái tên đi theo con số.
Chúng nó đi theo cái tên.
Nó nằm trong bóng tối, và nó nghĩ tới cái hộp số bốn mươi mốt.
Cái hộp ấy có mã. Có tên. Có một dòng trong sổ. Có một lá bùa dán trên nắp.
Trong bảy mươi hai cái hộp ở kho ấy, cái duy nhất có tên là cái do nó đọc ra.
Từ chỗ tôi đứng bây giờ, tôi biết đêm ấy tôi đã đi được ba phần tư quãng đường tới sự thật.
Tôi hiểu chúng nó theo cái tên. Tôi hiểu cái tên bây giờ nằm trong sổ của một công ty. Tôi hiểu chúng nó đứng ngoài cửa kho vì không vào được.
Cái tôi không hỏi, mà tôi thì có đủ dữ kiện để hỏi, là câu này:
Nếu chúng nó không vào được, thì lá bùa dán trên nắp hộp để làm gì.
Bùa để gọi thì phải đặt dưới bát cơm, ngoài trời, ở chỗ chúng nó tới được.
Bùa dán trên nắp một cái hộp đóng kín, trong một cái kho khoá cửa, thì nó không gọi ai cả.
Nó giữ.
Tôi đã có đủ mọi mảnh vào đêm hôm ấy, đêm thứ tư của tháng đi làm đầu tiên.
Tôi xếp chúng nó lại, và tôi dựng lên một bức tranh khác hẳn: rằng người ta chỉ giữ tạm, rằng đấy là chỗ hỏng của một quy trình, rằng tôi sẽ sửa được bằng cách tìm ra tên cho từng người trong bảy mươi hai cái hộp ấy.
Tôi ngủ thiếp đi lúc gần ba giờ sáng với cái kế hoạch ấy trong đầu, và tôi thấy nhẹ người.
Người ta rất giỏi cái việc ấy: xếp đủ mọi mảnh sự thật lại rồi dựng lên một bức tranh mà mình chịu đựng được.
Sáng hôm sau tôi tới sớm hơn giờ làm nửa tiếng.
Tôi đi vòng ra phía sau, tới chỗ cửa kho, và tôi nhìn lại một lần nữa dưới ánh sáng ban ngày.
Ban ngày thì không thấy gì cả.
Đấy không phải vì chúng nó đi. Chúng nó vẫn ở đấy. Chỉ là ban ngày, giữa nắng, giữa tiếng người gọi nhau và tiếng xe nổ máy ngoài sân, cái méo ấy chìm đi, giống như sao trên trời ban ngày vẫn còn mà mắt không bắt được.
Tôi đứng đấy chừng năm phút, rồi bảo vệ đi qua, hỏi tôi tìm gì.
Tôi bảo cháu ra xem cái cửa kho có bị kênh không, hôm qua cháu nghe tiếng lạ.
Bác bảo vệ ra sờ thử cái mép cửa, rồi bảo: gió thôi, cửa này gió lùa suốt.
Rồi bác nói thêm một câu, nói bâng quơ, vừa nói vừa đi vào:
Đêm nào nó chả kêu. Nghe mãi cũng quen.
Tôi đứng lại ở đấy một mình thêm một lúc.
Có một người gác đêm ở cái công ty ấy, gác mấy năm rồi, đêm nào cũng nghe tiếng ở cửa kho, và bác ấy gọi cái ấy là gió.
Đấy là cách những chỗ như thế tồn tại được lâu đến vậy: không phải vì người ta giấu giỏi, mà vì mọi người đều có sẵn một cái tên vô hại cho cái mình nghe thấy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 6 →