Một tuần sau, Kiệt bắt đầu dạy tôi cách quan sát đúng chuẩn của Bảng, không phải lý thuyết suông mà là đi theo cậu thực hành, đứng ở những góc khuất quen thuộc của cậu, học cách nhìn một đám đông mà không bị cuốn vào nó.
"Nhìn kỹ chỗ đó," Kiệt nói, chỉ về phía một nhóm học sinh lớp 10 đang ngồi ăn trưa ở góc sân, "đếm xem có bao nhiêu đứa thật sự đang nói chuyện, bao nhiêu đứa chỉ đang ngồi cạnh mà không ai để ý tới nó."
Tôi nhìn theo, cố áp dụng kỹ năng đếm cũ của mình vào một mục đích mới. Có một cậu bé ngồi hơi tách ra khỏi nhóm, không hẳn bị bỏ rơi, nhưng cũng không thật sự được kéo vào câu chuyện chung. Cậu cầm hộp cơm trên đùi, gắp thức ăn đúng nhịp mọi người cười, nhưng mắt cứ nhìn xuống hộp cơm nhiều hơn nhìn lên bạn bè, một chi tiết nhỏ tôi chắc chắn sẽ không để ý nếu không có Kiệt chỉ ra.
"Cậu ấy ổn không?" tôi hỏi.
"Chưa biết," Kiệt đáp. "Ghi cái thấy, không nói cái biết. Đó là nguyên tắc đầu tiên. Hôm nay em chỉ được ghi lại quan sát, không được kết luận, không được hỏi trực tiếp, không được làm gì để thay đổi tình huống đó."
Tôi gật đầu, nhưng trong lòng thấy khó chịu, một sự khó chịu tôi chưa từng cảm nhận rõ ràng tới vậy trước đây: nhìn thấy một dấu hiệu có thể là bất thường, mà không được phép làm gì ngay lập tức. Ngón tay tôi tự động gõ nhịp lên bìa cuốn sổ, thói quen đếm người cũ, và tôi phải cố ý dừng lại, nhắc mình đang đứng ở vai trò khác, không phải đứa lớp phó văn thể mỹ quen chạy tới hỏi han ngay khi thấy ai lạc lõng.
"Cái này khó hơn em tưởng," tôi thú nhận.
"Sẽ khó hơn nữa," Kiệt nói, không an ủi, chỉ nói thẳng sự thật. "Có những lúc em sẽ thấy rõ ràng một người đang cần giúp, và luật buộc em phải chờ, phải quan sát thêm để chắc chắn đó không phải cảm tính nhất thời, trước khi báo cho phòng tư vấn. Chờ đợi đó, đôi khi, là phần khó nhất của việc này."
Tôi dành cả tuần sau đó quan sát cùng Kiệt, ghi chép vào một cuốn sổ nhỏ Nghi đưa riêng cho tôi, chưa phải Sổ Bảng chính, chỉ là sổ tập sự. Tôi học cách phân biệt một người đang có một ngày tồi tệ với một người đang thật sự rơi, học cách kiềm chế bản năng muốn xông vào giúp ngay lập tức.
Có một buổi chiều, tôi phát hiện một bạn nữ lớp 10 vắng mặt giờ ăn trưa ba ngày liên tiếp, dáng vẻ mệt mỏi, mắt thâm quầng. Tôi ghi lại, báo cho Kiệt, và hai đứa cùng theo dõi thêm hai ngày nữa trước khi Kiệt quyết định đủ dữ liệu để báo ẩn danh cho cô Tuệ Lâm.
Hai đêm liền tôi ngủ không yên, cứ nghĩ tới gương mặt mệt mỏi của bạn nữ đó, tự hỏi liệu mình có đang chờ quá lâu, có đang để nguyên tắc lấn át một điều rõ ràng đang cần được giúp ngay. Tôi mang cả nỗi lo đó ra hỏi thẳng Kiệt vào buổi chiều thứ ba, khi cả hai đứng đợi ở góc hành lang quen thuộc.
"Sao phải chờ lâu vậy? Nhỡ đâu có chuyện gì xảy ra trong hai ngày đó thì sao?" tôi hỏi, không giấu được sự sốt ruột.
"Vì báo sai cũng có cái giá của nó," Kiệt đáp. "Nếu báo nhầm một người chỉ đang có một tuần học hành căng thẳng, phòng tư vấn sẽ phải dành thời gian cho một ca không cần thiết, trong khi có thể có một ca khác đang cần gấp hơn. Cân bằng đó, không ai dạy em được ngay, em phải tự học qua từng lần sai."
Tôi im lặng, thấm dần cái sức nặng của trách nhiệm mới, một sức nặng khác hẳn việc đứng ra tổ chức sự kiện, nơi sai sót chỉ khiến một buổi tiệc kém vui đi, không phải khiến một người có thể bị bỏ lỡ đúng lúc họ cần được nhìn thấy nhất.
Hai ngày sau, cô Tuệ Lâm gọi bạn nữ đó lên phòng tư vấn, khéo léo lồng vào một buổi tư vấn định kỳ bình thường của khối 10 để không ai nghi ngờ gì. Tôi không biết cụ thể chuyện gì đã xảy ra trong cuộc trò chuyện đó, chỉ biết vài ngày sau, bạn ấy quay lại ăn trưa cùng nhóm bạn cũ, nét mặt nhẹ nhõm hơn hẳn. Có một trưa, tôi đứng xa xa nhìn bạn ấy cười với đám bạn, một nụ cười có vẻ thật, khác hẳn gương mặt mệt mỏi tôi từng ghi lại trong sổ, và tôi phải quay đi ngay, sợ ánh mắt mình vô tình lộ ra điều gì đó. Đó là lần đầu tiên tôi thấy được kết quả cụ thể của việc quan sát kiên nhẫn, và nó khiến mọi sự chờ đợi khó chịu mấy ngày trước bỗng có ý nghĩa hẳn.
Tối đó, tôi ngồi viết vào cuốn sổ tập sự, cố ghi lại thật khách quan mọi điều mình quan sát được trong ngày, xoá đi xoá lại nhiều lần những câu tôi lỡ viết pha cảm tính. Cây bút cứ dừng lại giữa chừng mỗi khi tôi định thêm một câu đánh giá thay vì chỉ mô tả sự việc, và tôi nhận ra thói quen cũ, thói quen của một đứa vẫn quen kể chuyện có cảm xúc, sẽ còn mất một thời gian dài mới gột bỏ được hết trong công việc mới này.
Tôi hiểu, đây chỉ mới là tuần đầu tiên trong một hành trình mà tôi biết sẽ còn dài, dài hơn bất kỳ điều gì tôi từng làm trước đó trong đời học sinh của mình.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →