18. — CÂY TRE
Ở xứ Đông-Pháp cây tre rất là có ích. Người ta giồng tre chung quanh làng làm lũy để ngăn cướp giặc, hoặc ở vệ ao, hoặc ở những chỗ đất xấu mà giồng các cây khác không có lợi. Tre dùng làm nhà, giường, chõng, ghế, đan rổ, rá, nong, nia, giần, sàng; làm cán mai, cán cuốc, làm đũa, làm lạt. Nếu không có tre chắc hẳn những nhà nghèo còn khổ sở hơn nữa.
CÂU HỎI
1. Cắt nghĩa những tiếng: Lũy, vệ ao, cái chõng.
2. Cái giần với cái sàng khác nhau thế nào?
3. Tre còn dùng làm gì nữa?
4. Sao tre lại làm cho người nghèo đỡ khổ được?
(Duyên-Hà, Thái-Bình)
TRẢ LỜI
1. Lũy là một bức giậu bằng cây (như tre, hóp, v.v.), hoặc là một bức tường đất cao, bao bọc xung quanh một khu nào để ngăn giữ người ngoài không vào được trong khu ấy. — Vệ ao là ven bờ ao. — Chõng là một thứ phản ngồi làm bằng tre dễ mang xách đi được.
2. Cái giần khác cái sàng vì các mắt giần mau hơn và nhỏ hơn mắt sàng; giần dùng để giần gạo giã rồi cho sạch cám và tấm, còn sàng dùng để sàng gạo say rồi cho sạch trấu.
3. Ngoài các thứ đã kể trong bài ám-tả, tre con dùng để làm giấy viết như thứ giấy làm ở nhà máy Đáp-Cầu.
4. Tre làm cho các nhà nghèo đỡ khổ vì tre dùng làm các thứ cần dùng cho người ta được, mà tre chỗ nào cũng có giồng, dễ kiếm mà rẻ hơn các vật liệu khác như gỗ, sắt, vôi, gạch, v.v,
LỜI DẶN. — Nên nhận những chữ: xứ sở, — quan công-sứ, sứ-thần; — cây tre, — che chở; — xấu tốt — con sấu; — giường phản, giường thờ, — dường nào, — rường nhà; — rổ rá, rổ cỏ, — khạc giổ (nhổ); — rá rổ, võng dá, — giá cả.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 36 →