2. — HỌC NAM-NGỮ
Nước ta tên gọi là Việt-Nam, nên quốc-ngữ của ta gọi là Nam-ngữ. Ôi! Nam-ngữ! Nam-ngữ, ta là người Nam, sinh trưởng ở đất nước Nam, sống chết ở nước Nam, nói tiếng nước Nam, viết tiếng nước Nam, xưa ông cha ta dùng tiếng Nam, nay vợ con ta và bao nhiêu người xung quanh ta đang dùng tiếng Nam, sau này con con cháu cháu ta sẽ có dùng tiếng Nam thì ta há dám khinh thường Nam-ngữ mà chẳng cố theo đuổi cho kỳ đến nơi đến chốn ru?
CÂU HỎI
1◦) Sinh-trưởng nghĩa là gì?
2◦) Khinh thường nghĩa là gì?
3◦) Sao ta không dám khinh-thường Nam-ngữ?
4◦) Giải nghĩa câu « Theo đuổi cho đến nơi đến chốn »
(Việt-Trì)
TRẢ LỜI
1. Sinh là đẻ, trưởng là nhớn lên; hai chữ ấy nghĩa là đẻ ở nơi nào và sống ở đấy.
2. Khinh thường nghĩa là coi làm thường mà không quí trọng có ý dẻ dúng.
3. Ta không dám khinh-thường Nam-ngữ vì Nam-ngữ là tiếng nói nước ta, ta phải học cho sõi cho thông mới có thể chuyện trò giao-thiệp với người đồng-bang ta và bàn luận biên chép các việc.
4. Người đi học cũng như một người đi đường: một người đã định đi đâu phải đi cho đến nơi đến chốn; người học một thứ tiếng gì hoặc một khoa gì, một nghề gì cũng phải học cho tinh thì mới đạt mục-đích mình được.
LỜI DẶN. — Nên nhận những tiếng: sinh trưởng, con trưởng, trưởng tộc, lý trưởng,; quan chưởng ấn, ông chưởng giáo; — cha mẹ, cha chả; tra xét, tra thuốc; — tiêu dùng, dùng dằng,; rùng mình, trống đánh rùng rùng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →