Vé bốn trăm tám mươi nghìn, ghế hai mươi bảy, tầng dưới, sát cửa sổ bên phải, và tôi ngồi nguyên chỗ đó ba mươi tiếng, tính cả hai lần xe dừng cho khách xuống ăn cơm mà tôi không xuống. Từ quê vào tới đây tôi ăn hai ổ bánh mì không, mười lăm nghìn một ổ, mua ở trạm dừng ngoài Quảng Ngãi lúc trời còn tối. Tới đoạn quốc lộ 22 chạy qua Hóc Môn thì cái xe không còn gọi là chạy được nữa. Nó nhích.
Gần sáu giờ chiều, đèn đường vừa bật, thứ đèn vàng đục làm mặt ai trong dòng xe cũng thành một màu. Trong khoang có mùi dầu gió của bà ngồi ghế đối diện, mùi mít chín của cái giỏ nhựa buộc ở ghế trên, và mùi máy lạnh chạy ba mươi tiếng liên tục không nghỉ. Kính cửa mờ hơi nước từ sáng, cứ lau xong một lúc là mờ lại. Người đàn ông ghế sau tôi gọi điện về nhà, nói to, giọng quê tôi, bảo vợ khỏi ra bến đón, để anh bắt xe ôm cho lẹ.
Dưới khoang hành lý, giữa mấy bao tải và một thùng xốp buộc dây, có cái ghế đẩu gỗ của ông ngoại. Tôi chằng nó bằng dây chuối khô, kiểu ông hay chằng đồ nghề lên xe đạp, và tôi buộc dở tới mức phải nhờ anh phụ xe buộc lại giùm. Tối bốn mươi chín ngày vừa xong hôm kia. Bữa cơm hôm đó bà ngoại dọn thêm một cái chén trước mặt tôi và không xới cơm vào, rồi bà quay sang nói với anh Kiên về chuyện cá lồng, nói suốt, và tôi ngồi ăn hết bát của tôi rồi ra sân rửa chén.
Điện thoại rung trong túi áo khoác. Một học viên xin dời buổi tối mai sang thứ sáu, một trăm tám mươi nghìn dời qua tuần sau chứ không mất, nhưng tiền phòng đóng ngày mùng năm và tôi còn thiếu một triệu tám. Phúc nhắn từ trưa, hỏi tới đâu rồi, tôi chưa trả lời. Tôi ngồi tính lại ba khoản phải trả trong tuần, tính hai lần cho chắc, và ra cùng một con số.
Xe nhích thêm được đúng một thân xe rồi đứng lại, tôi lấy cổ tay áo lau chỗ kính vừa mờ, và ở làn bên phải, giữa đám xe máy đang nhúc nhích từng chút một, có một cô gái mặc áo sơ mi công sở màu xanh rất nhạt đứng yên, hai tay ôm cái túi xách trước bụng đúng kiểu người đang đợi một khoảng trống để băng qua, chỉ có điều dòng xe cứ lách qua bên này rồi lách qua bên kia quanh cô mà không ai bấm còi, không ai chạm phải, không ai quay đầu lại.
Không ai nhìn thấy cô ấy ngoài tôi.
Một chiếc xe tải nhỏ cán qua vũng nước sát chân cô. Nước bắn lên ống quần của người chạy xe máy phía sau, người đó chửi một tiếng rồi đi tiếp, còn gấu quần cô thì khô, khô đều, khô như quần người vừa từ trong phòng bước ra. Cô không nhìn về phía xe khách. Cô nhìn sang bên kia đường, chỗ có cái quán cơm bình dân treo đèn ống, và cô đứng ở tư thế của người sắp đi.
Ông ngoại dạy tôi hồi tôi sáu tuổi, dạy đúng một câu và không giải thích gì thêm. Đừng nhìn thẳng. Nhìn xuống chân người ta là được. Tôi nhìn xuống chân cô, đôi giày bít mũi màu đen đã tróc một mảng ở gót, và tôi đếm thầm trong đầu, đếm tới hai mươi mốt thì xe nhích được thêm một đoạn. Đếm là cách tôi giữ cho mắt mình ở nguyên một chỗ. Hết ba mươi thì cái đầu xe che khuất, hết bốn mươi thì tôi thôi đếm.
Xe qua khỏi chỗ đó và tôi không quay đầu lại. Quay lại thì cũng chỉ thấy đúng cái tôi vừa thấy, mà nhìn lần thứ hai là một chuyện khác hẳn với nhìn lần thứ nhất, ông ngoại không nói câu đó nhưng tôi hiểu ra từ lâu rồi. Một ngày đi ngoài đường tôi đi ngang bao nhiêu người như vậy thì tôi không đếm nổi, chắc cỡ mười mấy, có hôm hơn, phần lớn họ không biết là tôi có mặt ở đó và tôi thì có việc của tôi phải làm cho xong trong ngày. Cái đó cũng là ông ngoại dạy, dạy bằng cách kéo tay tôi đi tiếp mỗi lần tôi đứng lại.
Bà ghế đối diện hỏi tôi ra bến nào, tôi nói cháu xuống dọc đường, gần chợ Hóc Môn. Bà kể con trai bà làm ở Bình Dương, tết này chắc không về, xe cộ dạo này kẹt kinh khủng, ngày trước đoạn này chạy cái vèo. Tôi ừ. Tôi ừ hai ba lần gì đó, và tôi nhớ mình có ừ, còn bà nói thêm những gì thì tôi không nghe kịp.
Được chừng một cây số thì xe đứng hẳn. Không nhích nữa, đứng. Tài xế chống một chân xuống sàn, nhoài người ra cửa nhìn lên phía trước rồi nói với anh phụ xe rằng phía trên có chuyện, chắc phải nửa tiếng. Hành khách nhoài hết sang bên phải. Một chiếc xe tải thùng đậu ngang chiếm gần trọn hai làn, bốn cái đèn khẩn cấp chớp chậm và không đều nhau, và phía trước đầu xe tải, cách chừng mươi bước, có một tấm chiếu cói trải trên mặt đường.
Ba cây nhang cắm vào một chai nước suối cắt đôi, đổ cát vào làm bát nhang, đặt ngay mép chiếu. Nhang mới thắp, khói còn thẳng. Đám đông đứng thành một vòng rất xa, xa hơn mức cần thiết, ai cũng đứng cạnh xe của mình và không ai bước lại gần, kiểu đứng của người vừa muốn nhìn vừa muốn về. Một anh mặc áo phản quang cầm cái đèn pin quơ cho xe máy đi vòng qua lề.
Bà ghế đối diện chép miệng, nói tội chưa, rồi nói giờ này tan ca đông lắm. Người đàn ông ghế sau tôi gọi điện lần nữa, lần này bảo vợ chắc trễ hơn dự tính, đường trên này có tai nạn, xe nằm một chỗ. Mùi nhang lẫn vào mùi khói xe rồi lọt được vào trong khoang qua khe cửa, nhạt, không rõ là mùi gì nếu người ta không nhìn thấy ba cây nhang ngoài kia.
Chiếu ngắn hơn người nằm dưới nó nên hở ra một khoảng ở phía đầu. Từ chỗ tôi ngồi, qua lớp kính mờ, tôi không nhìn thấy mặt. Tôi chỉ nhìn thấy một mảng vải ló ra ngoài mép chiếu, cái mảng ấy có màu xanh rất nhạt, cái màu của nước vo gạo lần thứ hai.
Tôi nhận ra cái áo.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →