Ngày nhàn xem truyện "Tam công" Thương người hiền sĩ sinh không gặp đời Cuộc cờ thúc quí đua bơi Mấy thu vật đổi sao dời, thương ôi! Kể từ Thạch Tấn ở ngôi U Yên mấy quận cắt bồi Khiết Đan Sinh dân nào xiết bùn than U Yên trọn, cũng giao bàn về Liêu Theo trong người kiệt rất nhiều Ôm tài giấu tiếng làm tiều, làm ngư Nước non theo thú ẩn cư Thờ trên nuôi dưới, nên hư mặc trời Lại thêm Phật, Lão đua lời Nghĩ lòng người với đạo đời thêm thương! Nhà năm ba gánh cương thường Phận ai nấy giữ, trọn giường thời thôi Đời vương đời đế xa rồi Nay Di mai Hạ biết hồi nào an! Năm trăm vận ở sông Vàng Nước còn đương cáu, không màng thánh nhân Đã cam hai chữ "tỵ Tần" Nguồn Đào tìm dấu, non xuân ruổi miền Có tên rằng Mộng Thê Triền Tuổi gần bốn chục, nhân duyên năm lần Nhà nghèo ở núi Bạch Vân Dẹp văn theo võ, tách thân làm tiều Ngày ngày đốn củi rừng Nghiêu Hái rau non Thuấn, phận nhiều lao đao Đông Xuyên lại có người hào Tên rằng Tử Phược họ Bào, làm ngư Trong mình ba chục tuổi dư Sinh con mười đứa bé thơ thêm nghèo Ngược xuôi trên nước một chèo Nay doi mai vịnh, nghề theo lưới chài Họ Bào họ Mộng hòa hai Trước theo nghề học đều tài bậc trung Chẳng may gặp buổi đạo cùng Treo kinh dẹp sử, lánh vòng loạn ly Người nam kẻ bắc phân đi Non sông rẽ bạn cố tri bấy chầy Cách nhau mười mấy năm nay Tình cờ lại đặng một ngày gặp đây Ngư, Tiều mở tiệc vui vầy Ngâm thi, uống rượu, đều bày chí xưa Tiều ngâm thơ rằng: Non xanh mấy cụm đội trời thu Sưu thuế Tây Liêu chẳng đến đầu Tên đã gác ngoài sân thúc quí Mình liền dầm giữa suối Sào, Du Vui lòng bạn cũ thi vài cuốn Rảnh việc ngày nay rượu một bầu Chút phận riêng nương hơi núi rạng Trăm năm ra sức dọn rừng nhu (nho) Ngư ngâm thơ rằng: Nghênh ngang trên nước một thuyền câu Chèo sóng buồm giong, trải mấy thu Ngày xế tấm mui che gió Tấn Đêm chầy bếp lửa chói trời U Mặc tình sở ngộ đời trong đục Vui thú phù sinh bến cạn sâu Trăm tuổi trọn nhờ duyên cá nước Dù lòng ngao ngán giữa dòng nhu Tiều rằng: sinh chẳng gặp thời Thân đà đến ấy, nghĩ thôi thêm phiền Lênh chênh chữ phận, chữ duyên Lỡ Tiên, lỡ Phật, lỡ nguyền nho phong Nhớ câu "quân tử cố cùng" Đèn trăng, quạt gió, non sông phận đành Ngư rằng: hai chữ công danh Hoàng lương nửa gối, đã đành phôi pha Thương câu "thế đạo đồi ba" Ngày nay chưa biết mai ra lẽ nào! Uống thêm vài chén rượu giao Ngâm thi hoài cổ, để rao tiếng đời Ngư, Tiều hoài cổ ngâm, ngụ ưu đạo ý (thử xướng, bỉ họa): Từ thuở Đông Chu xuống đến nay Đạo đời rậm rạp mấy ai hay Hạ, Thương đường cũ gai bò lấp Văn, Vũ nền xưa lúa trổ đầy Năm bá mượn vay, nhân nghĩa mọn Bảy hùng giành xé, lợi danh bay Kinh Lân mong dẹp tôi con loạn Sử Mã khôn ngăn mọi rợ bầy Dùi mõ Mặc, Dương thêm chộn rộn Tiếng chuông Phật, Lão rất vang ngầy Lửa Tần, tro Hạng vừa nguôi dấu Am Hán, chùa Lương lại réo dầy Trong đám cửu lưu đều nói tổ Bên đường tam giáo cũng xưng thầy Khe Đào, động Lý nhiều đoàn trốn Rừng Trúc, đình Lan lắm bạn say Phép báu Thi, Thư dòng mọt nát Màu xuê Lễ, Nhạc nhiễm sương bay Mấy dòng biển nghiệt chia nguồn nước Trăm chặng rừng hoang bít cội cây Hơi chính ngàn năm về cụm núi Thói tà bốn biển động vầng mây Ngày nào trời đất an ngôi cũ Mừng thấy non sông bặt gió tây Thơ rồi Ngư mới hỏi Tiều: Việc nhà con vợ ít nhiều đặng hay? Tiều rằng: Triền rất chẳng may, Năm lần cưới vợ, còn nay một người. Nằm hoài biếng nói, biếng cười, Rề rề đau máu, da tươi bàu nhàu. Bốn người trước thác theo nhau, Người đau sản hậu, người đau thai tiền, Khiến thêm nghèo khổ cho Triền, Bán bao nhiêu củi về tiền thuốc thang, Thầy hay thời ở xa đường, Tin theo thầy tục, giúp phương hại người. Ngư rằng: Phược cũng như người, Hôm mai lận đận về mười đứa con. Chí lăm nuôi đặng vuông tròn, Chung tư trập trập, nhà còn phúc ghi. Nào hay tạo hóa tiểu nhi, Rủ bầy con nít đều đi bỏ mình. Đứa thời đau chứng cấp kinh, Đứa thời cam tích, bụng bình rĩnh ra, Đứa thời hai mắt quáng gà, Đứa thời túm miệng, khóc la rốn lồi, Đứa thời đau bụng lãi chòi, Đứa thời ỉa kiết, rặn lòi trôn trê, Đứa thời sài ghẻ, nóng mê, Đứa thời hoa trái, độc về hông, vai. Rủ nhau thỉnh thoảng chết hoài, Đứa đôi ba tháng, đứa vài ba năm. Trời đà hao tốn tiền trăm, Thương con chạy bậy, lầm nhằm thuốc nhăng. Đến nay còn sót hai thằng, Nhờ trời khỏe mạnh, đặng ăn chơi thường. Cảm ơn kẻ sĩ du phương, Dắt ta, điềm chỉ vào đường Y lâm. Thê Triền nghe nói mừng thầm, Hỏi rằng: Thầy ở Y lâm tên gì? Ngư rằng: Chưa biết tên chi, Nghe người nói đó là kỳ Nhân Sư. Tiều rằng: Chữ gọi Nhân Sư, Tiên hay là Phật, bậc gì công phu? Ngư rằng: Vốn thật thầy nhu (nho),
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →