Phải, chăng, đã thấy, còn nghi lẽ nào.
Ví như một giấc a giao,
Mấy nguồn nước đục lòng vào đều trong.
Mậu rằng: Nói lại đượm lòng,
(Thiếu một đoạn)
Nay ta cứ gốc mà phăng,
Theo đường nhân nghĩa, chi bằng đạo nho.
Trời sanh có một đạo nho,
Ngàn nghề muôn nghiệp đều lò ấy ra,
Cứ theo đơm quảy ông bà,
Quỷ thần chẳng giận, mồ ma không hờn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Dạy đời con cháu đội ơn thánh hiền,
Từ đây hai họ đều truyền:
Bao nhiêu tả đạo đều nguyền đốt kinh.
Phút đâu quan Trấn hay tình,
Đòi Hà Mậu tới hỏi minh mọi lời.
Tuyết, Băng, hai gái nhờ trời,
Cha con vầy hiệp mọi nơi vuông tròn,
Cho hay người cách nước non,
Thác thời mất dấu, sống còn gặp nhau.
Tần Khanh gạn hỏi đuôi đầu,
Họ Hà thưa việc trước sau tỏ tường,
Liền sai quan huyện Nam khương,
Dạy Trần Đoan rước họ Dương đem về.
Yến diên thết đãi phủ phê,
Cùng nhau bàn luận mọi bề phải chăng.
Việc trong trời đất, mấy tầng,
Thấy đâu nói đó, nào từng có quên.
Dương Từ, Hà Mậu hai tên,
Tần Khanh dâng sớ tâu lên cửu trùng.
Tấn vương xem sớ lạ lùng,
Chỉ đòi nội vụ thảy cùng lai kinh.
Tần Khanh vâng chỉ lai kinh,
Cha con hai họ sửa mình đều đi,
Tấn vương ngự trước đan trì,
Cho vào ra mắt một khi xem tường,
Tả biên quỳ tấu họ Dương,
Anh em Trân, Bửu, hai chàng tân khoa
Hữu biên quỳ tấu họ Hà,
Chị em Băng, Tuyết, nết na dịu dàng,
Tấn vương phán trước ngai vàng,
Dương Từ, Hà Mậu có công,
Chín Trời, mười Đất, đi thông,
Tìm ra mối đạo, trong lòng mới an.
Bấy lâu chuộng thói dị đoan,
Đến nay mới biết lầm đường đi xa,
Có lòng quy chánh, cải tà,
Trời liền cho phước, sanh ra con hiền.
Thêm giồi hai chữ lương duyên,
Song sanh đôi tốt, phỉ nguyền giàu sang,
Việc này giao lại Trấn quan,
Chủ hôn hai họ, cho an việc nhà,
Con hiền là báu nước nhà,
Đáng biên vào sử để ra khuyên đời.
Tấn vương dụ xuống khắp nơi,
Cấm theo đạo Phật, đạo trời, chẳng nên.
Dụ rằng: "Đất dưới, Trời trên,
Giữa là kẻ thế, bốn bên Mọi, Lào,
xưa nay chẳng đặng hỗn hào,
Xứ ai nấy ở, loại nào nấy theo,
Coi công: lưỡng quốc tương triều,
Đường đi cách trở, hãy nhiều non sông.
Cớ sao mình ở nước Trung,
Lòng theo nước ngoại, còn mong đợi gì.
Ông bà mồ mả bỏ đi,
Gốc mình chẳng kính, lại vì gốc ai?
Cửa nhà làng xóm cách ngoài,
Phận gần chẳng đoái, đoái hoài phận xa,
(Thiếu một đoạn)
Cứ theo một đạo nho ta,
Giữ câu lễ nghĩa, muôn nhà an vui".
Tấn vương dụ xuống cấm rồi,
Tần Khanh dâng sớ xin hồi Hà đông.
Tấn vương ngự đến đền rồng,
Bạc vàng gấm vóc thưởng công Dương, Hà,
Làm thơ ngự chế ban ra,
Tặng cho hai họ vinh hoa một đời.
Thơ Tặng Dương Từ:
Chùa sãi nào hơn gã họ Dương,
Đi tu mà biết lẽ du phương,
'Gậy thiền dầu tránh nơi tiên động,
Rượu lão đâu say chỗ Phật đường.
Thế tục lắm người con mắt thịt,
Phong trần mấy kẻ tấm lòng gương,
Việc trong trời đất: nên, hư, thấy,
Nào để dân ngu phải lỗi đường.
Thơ Tăng Hà Mậu:
Qua bếp nên khen gã họ Hà,
Năm đời còn biết lẽ ngay tà,
Ra đi chẳng nại đường trời đất,
Chớ lỗi câu nào việc mẹ cha.
Dối thói man di vì nỗi trẻ,
Nghĩ ơn thủy thổ cám cho già,
Một người tìm đạo, muôn người thấy,
Bia để ngàn năm tiếng nước nhà,
Khiến nêu thơ ấy; hai người,
Có công giúp nước, để đời xem trông,
Hai người dưng biểu đền rồng,
Đem nhau về trấn hà đông rỡ ràng,
Tần Khanh về kíp sai quan,
Ra Long môn quận sửa sang cửa nhà,
Dựng nên lương đống một tòa,
Ơn vua sửa dựng, nêu ra cột cờ.
Tần Khanh liền luận ngày giờ,
Dương, Hà hai họ viết thơ đính kỳ,
Phu nhân lòng rất yêu vì,
Sắm cho hai gái vinh quy về làng.
Trong mình đã đủ nữ trang,
Lại thêm của báu lịnh ban thiếu gì,
Cửa nhà rực rỡ ai bì,
Hai con vầy ở, đợi kỳ tống hôn.
Xui nên một huyên Long môn,
Bà con nội ngoại khen đồn tiếng xa.
Ngẫm xem trong cửa họ Hà,
Người sang khách trọng vô ra dập dều,
Trời trao lộc tốt làm nêu ở đời.
Tới ngày tháng sáu hai mươi.
Họ Dương sắm lễ, nhóm người nghinh hôn.
Nam khương qua đến Long Môn,
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 31 →