────────────────────────────────────
*"Mùa đông năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, quân Hán bình được Nam Việt, chia đất ấy đặt làm chín quận."*
— Sử Ký, Nam Việt liệt truyện, năm 111 trước Công nguyên †
────────────────────────────────────
*Bà đã hát bài ấy sáu mươi năm và chưa lần nào hát cho ai nghe. Hát là để gọi mưa, gọi người, gọi mùa. Đêm nay bà hát để gửi.*
Lửa ăn tới hai cây cột phía đông thì một góc mái tranh sụp xuống, và trong đền sáng hẳn lên, sáng hơn cả những đêm hội.
Tô Thị Đinh đứng cạnh chiếc trống. Trống đặt trên bốn con kê gỗ, mặt ngửa lên trời, giữa mặt là ngôi sao mười bốn cánh, quanh ngôi sao là những vành chim bay nối đuôi nhau về cùng một phía. Bà đã lau cái mặt ấy mỗi tháng một lần từ năm mười lăm tuổi. Bà thuộc chỗ nào đồng dày, chỗ nào đồng mỏng, chỗ nào có một vết rỗ bằng hạt gạo mà người thợ đúc để lại rồi không ai chữa.
"Bà ơi, cháy tới sàn rồi," thằng Rí gọi từ ngoài cửa. Nó không dám bước vào.
"Vào đây."
"Bà ra đi, cháu kéo bà ra."
"Vào đây, Rí."
Nó vào. Con Sẻ bám sau lưng nó, hai tay nắm vạt áo nó, mắt không rời chiếc trống.
"Khiêng đầu kia," bà nói. "Đẩy nó vào lửa."
Rí đứng im một nhịp. "Bà bảo gì cơ?"
"Đẩy vào lửa."
"Trống của làng..."
"Ta biết trống của ai." Bà luồn tay dưới vành trống. Đồng còn mát, mát hơn cả bàn tay bà. "Đẩy."
Chiếc trống lăn khỏi con kê, nghiêng đi ba vòng nặng nề, dừng lại sát chân cột đang cháy. Bà lấy chân hất mấy thanh tre cháy dở lên mặt trống. Lửa liếm quanh vành, rồi trèo lên mặt, rồi ngôi sao mười bốn cánh bắt đầu sẫm lại. Hơi nóng dội ngược lên cằm bà.
"Bà," con Sẻ nói.
"Im."
Ba người ngồi xổm nhìn cái mặt trống nóng lên. Đến lúc đồng chuyển màu như da người sốt, bà cầm gáo nước lã dội một gáo đầy.
Tiếng kêu của nó không giống tiếng trống. Nó là một tiếng rất ngắn, khô, đi thẳng vào răng.
Bà nhấc hòn đá kê chân cột lên bằng cả hai tay.
*
Trống đồng của làng này giòn. Bà biết từ năm nào đó xa lắm, hồi một con trâu sổng chuồng húc đổ con kê, trống rơi xuống nền đá và mẻ mất một miếng bằng móng tay. Người ta đã mắng con trâu suốt một mùa.
Bà đập nhát thứ nhất vào chỗ đồng mỏng, sát vành.
Nhát thứ hai thì nó vỡ. Không vỡ toác như nồi đất, mà nứt ra theo những đường có sẵn từ lúc đúc, tách thành từng mảnh cong, mảnh to bằng bàn tay, mảnh nhỏ bằng lá trầu.
Rí ngồi bệt xuống sàn.
"Đứng dậy," bà nói. "Cầm hai mảnh này. Mảnh to xuống bến, giấu dưới hòn đá thứ ba tính từ mép nước. Mảnh nhỏ đem sang bên kia gò, chôn dưới cái chuồng lợn nhà mày."
"Chôn ở chuồng lợn?"
"Chỗ nào bẩn thì không ai lục."
Nó cầm hai mảnh đồng, tay run đến mức phải kẹp vào nách. "Còn bà?"
"Ta ở đây."
"Bà đi với cháu."
"Ta ở đây, Rí. Người ta vào mà không thấy ai đứng cạnh trống thì người ta sẽ đi tìm cho bằng được cái trống." Bà đẩy vai nó. "Đi lối ao. Đừng chạy. Chạy là người ta đuổi."
Nó đi. Bà quay sang con Sẻ, nhét vào tay nó một mảnh nữa, mảnh có nửa con chim, cánh chim đứt ngang chỗ đồng gãy.
"Nắm chặt."
"Cháu nắm rồi."
"Không được đưa cho ai. Không được kể với ai. Ai hỏi thì bảo không biết. Nhắc lại đi."
"Bảo không biết."
"Nữa."
"Bảo không biết."
Bà cầm lấy cằm nó, xoay mặt nó về phía ánh lửa để nhìn cho rõ. Hàm răng con bé mới nhuộm được hai lần, còn đen chưa đều, chỗ đậm chỗ nhạt.
"Chạy đi."
*
Bà giấu một mảnh vào hũ mắm dưới sàn, một mảnh nhét vào kẽ cột phía tây, chỗ mối đã ăn rỗng. Còn hai mảnh nữa nằm trong tro, bà để nguyên đấy. Nếu người ta tìm được một cái gì thì người ta sẽ thôi tìm.
Ngoài sân có tiếng chân, nhiều chân, đi thành nhịp.
Người bước vào đầu tiên không mặc giáp. Hắn mặc áo vải, chân quấn xà cạp, và hắn nói tiếng của bà, giọng vùng dưới, hơi kéo dài ở cuối câu.
"Bà cốt đấy à."
"Ta không quen ngươi."
"Tôi người Chu Diên. Tôi đi với các quan." Hắn nhìn quanh đền, nhìn lên chỗ mái sụp, rồi nhìn xuống đống tro. "Các quan đang đếm trống. Mỗi làng có mấy cái, ai giữ, để ở đâu. Đếm thôi, bà ạ."
"Đếm thôi."
"Nộp thì được yên." Hắn ngồi xổm xuống, khều đống tro bằng mũi dao. "Bà giữ cái trống của làng này bao lâu rồi?"
"Từ hồi ngươi chưa đẻ."
"Vậy bà biết nó ở đâu."
"Nó ở đây."
Hắn khều thêm một cái nữa, gạt ra một mảnh đồng cong queo, đen nhẻm. Hắn cầm lên, xoay trong tay, rồi đặt xuống.
"Bà làm khổ tôi rồi," hắn nói, và giọng hắn nghe đúng như một người vừa bị làm khổ thật.
"Ngươi tên gì?"
"Bặc."
"Bặc." Bà gật đầu một cái. "Bao giờ ngươi già, có đứa nào hỏi ngươi đêm nay ngươi đứng ở đâu, ngươi nhớ trả lời cho đúng."
Hắn không đáp. Hắn đứng lên và bước lùi ra, nhường chỗ cho những người sau lưng hắn.
Bà quay mặt về phía chỗ chiếc trống đã đứng suốt đời bà, chỗ bây giờ chỉ còn bốn con kê gỗ và một khoảng sàn sạch hơn xung quanh. Bà mở miệng.
*Chim bay mỏi cánh,*
*đậu xuống mặt trống.*
*Ai còn nhớ tổ*
*thì về mà nghe.*
Chỗ luyến nằm ở chữ "về". Kéo xuống nửa nhịp rồi hất lên, như người gọi đò bên kia sông. Bà hát chỗ ấy chậm hơn mọi lần, chậm đến mức có người phía sau sốt ruột.
Mũi giáo vào dưới xương sườn bên trái, đi lên. Bà không nhìn xuống. Bà đang bận nghe xem cái tiếng của mình có bám được vào chỗ nào trong đống tro kia không, một chỗ nào đó, một cái gì đó còn đủ cứng để giữ.
Ngoài cửa đền, trên bậc gỗ, có một mảnh đồng nằm sấp trong bóng tối, nửa con chim úp mặt xuống đất. Con bé đã đánh rơi nó lúc người ta hô nhau ngoài sân.
Không ai bước lên bậc ấy. Tro từ trên mái rơi xuống, phủ dần, phủ kín.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
**CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 1**
† **Năm 111 trước Công nguyên**, Hán Vũ Đế đánh diệt nước Nam Việt của họ Triệu, chia đất cũ đặt thành chín quận. Ba quận nằm trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay là **Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam**. Đây là mốc mở đầu thời kỳ Bắc thuộc.
† **Trống đồng Đông Sơn**: mặt trống thường có ngôi sao nhiều cánh ở giữa (số cánh thay đổi tùy trống, phổ biến 12 và 14), bao quanh là các vành hoa văn trong đó có vành chim mỏ dài bay cùng một chiều. Hợp kim đồng thiếc pha tỉ lệ thiếc cao vốn cứng và giòn, dễ nứt vỡ khi va đập mạnh. Trống được dùng trong nghi lễ cầu mưa và để triệu tập cộng đồng.
‡ **Việc chính quyền đô hộ thu gom trống đồng** được sử liệu ghi nhận rõ nhất ở thời Mã Viện (năm 43 sau Công nguyên), khi ông ta cho nấu chảy trống đồng Lạc Việt để đúc ngựa đồng. Cảnh "đếm trống" năm 111 trước Công nguyên trong chương này là suy diễn văn học chiếu ngược về trước, không phải sự kiện được chép.
◆ **Tô Thị Đinh, thằng Rí, con Sẻ, người thông ngôn tên Bặc** và toàn bộ ngôi đền cùng câu vè đều là hư cấu văn học.
━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━━
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →