Nguyễn Du
Đại thi hào dân tộc (1765–1820) — Truyện Kiều và thơ chữ Hán, chữ Nôm.
1
Tác phẩm
0
Lượt đọc
0
Lượt thích
0
Theo dõi
28
Chương
Tiểu sử
Nguyễn Du (1766–1820), tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, là đại thi hào dân tộc Việt Nam, được tôn vinh là 'Đại thi hào dân tộc' và được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Ông xuất thân từ dòng họ Nguyễn Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) danh giá: cha là Nguyễn Nghiễm từng làm tới chức Đại Tư đồ (tể tướng) thời Lê–Trịnh, anh là Nguyễn Khản cũng làm quan lớn.
Nguyễn Du sớm mồ côi: cha mất năm 1775, mẹ mất ít năm sau, ông phải nương tựa người thân từ khoảng 12–13 tuổi. Ông sống qua một giai đoạn lịch sử đầy biến động: cuối Lê suy vong, phong trào Tây Sơn nổi lên (1786) lật đổ chúa Trịnh rồi vua Lê, sau đó nhà Nguyễn của Gia Long thống nhất đất nước (1802). Trong thời loạn lạc, ông trải qua hơn mười năm phiêu bạt gian truân ('mười năm gió bụi').
Dưới triều Nguyễn, từ năm 1802 Nguyễn Du ra làm quan cho Gia Long, lần lượt giữ các chức tri huyện, cai bạ, rồi được cử làm Chánh sứ đi sứ Trung Quốc (1813–1814). Chuyến đi sứ và những trải nghiệm về thân phận con người đã hun đúc nên các sáng tác lớn của ông.
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm. Đỉnh cao là 'Truyện Kiều' (Đoạn trường tân thanh) gồm 3.254 câu lục bát, phóng tác từ 'Kim Vân Kiều truyện' của Thanh Tâm Tài Nhân, cùng 'Văn tế thập loại chúng sinh'. Truyện Kiều trở thành kiệt tác bậc nhất của văn học Việt Nam, thấm đẫm tinh thần nhân đạo và tiếng nói thương xót thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ.
Nguyễn Du mất ngày 16 tháng 9 năm 1820 tại Huế vì bệnh dịch tả khi đang chuẩn bị đi sứ lần thứ hai, hưởng thọ 54 tuổi. Ông nâng tiếng Việt và thể lục bát lên đỉnh cao nghệ thuật, để lại ảnh hưởng sâu rộng và lâu bền nhất trong nền văn học Việt Nam.
Nguồn: Wikipedia
Cuộc đời & sự nghiệp
tác phẩm sự kiện- 1766Sinh ngày 3 tháng 1, thuộc dòng họ Nguyễn Tiên Điền; cha là tể tướng Nguyễn Nghiễm
- 1775Cha Nguyễn Nghiễm qua đời; sau đó mẹ cũng mất, Nguyễn Du sớm mồ côi
- 1786Tây Sơn ra Bắc lật đổ chúa Trịnh; bắt đầu thời kỳ phiêu bạt 'mười năm gió bụi'
- 1802Gia Long lập nhà Nguyễn; Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn
- 1813Được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh, gắn với tập thơ 'Bắc hành tạp lục'
- 1820Mất ngày 16 tháng 9 tại Huế vì bệnh dịch tả, thọ 54 tuổi
🏛️ Bối cảnh thời đại
Nguyễn Du sống vào giai đoạn cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19, một thời kỳ loạn lạc và đổi thay triều đại dữ dội bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Triều Lê suy tàn, chúa Trịnh chuyên quyền, rồi phong trào nông dân Tây Sơn nổi dậy đánh đổ cả Trịnh lẫn Lê, đại phá quân Thanh; cuối cùng Nguyễn Ánh (Gia Long) tiêu diệt Tây Sơn, thống nhất đất nước và lập nhà Nguyễn năm 1802.
Trong bối cảnh 'bãi bể nương dâu' ấy, một nhà nho thế gia như Nguyễn Du phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, trung thần lỡ vận, thân phận con người mong manh trước thời cuộc. Chính những trải nghiệm đau thương đã hình thành nên chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và tiếng thở dài thương đời trong toàn bộ sáng tác của ông.
Tác phẩm (1)
Tác phẩm tiêu biểu
Truyện thơ Nôm 3.254 câu lục bát; kiệt tác số một của văn học Việt Nam, thấm đẫm tinh thần nhân đạo
Bài văn tế chữ Nôm cầu siêu cho các vong hồn, chan chứa lòng từ bi
Tập thơ chữ Hán sáng tác phần lớn trong thời kỳ gian truân phiêu bạt
Tập thơ chữ Hán sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc 1813–1814
Tác giả cùng thời & mối liên hệ
Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.
Ảnh hưởng
Cha của Nguyễn Du, làm tới chức Đại Tư đồ thời Lê–Trịnh; mở đầu truyền thống văn học khoa bảng của dòng họ
Anh cùng cha, làm quan lớn thời Lê–Trịnh; có công nuôi dưỡng, dìu dắt Nguyễn Du
Tác giả Trung Quốc của 'Kim Vân Kiều truyện', tác phẩm gốc mà Nguyễn Du dựa vào để sáng tác Truyện Kiều
Người cùng thời
Nữ sĩ cùng thời; theo các giai thoại hai người có quen biết bên thơ rượu