Nguyễn Công Trứ
Danh sĩ (1778–1858) — thơ hát nói phóng khoáng, chí nam nhi và triết lý “ngất ngưởng”.
1
Tác phẩm
0
Lượt đọc
0
Lượt thích
0
Theo dõi
6
Chương
Tiểu sử
Nguyễn Công Trứ (1778–1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, là nhà chính trị, nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lớn của Việt Nam thời nhà Nguyễn. Ông sinh tại làng Quỳnh Côi (Thái Bình) nhưng quê gốc ở làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Là con của Nguyễn Công Tấn, ông sống thời niên thiếu trong cảnh nghèo khó nhưng nổi tiếng học rộng, tài hoa và phóng khoáng.
Năm 1819, khi đã 41 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên và bắt đầu con đường làm quan, phục vụ liên tiếp bốn đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Sự nghiệp quan trường của ông trải qua nhiều thăng trầm đầy kịch tính, có lúc làm tới Thượng thư, Tổng đốc, có lúc bị giáng làm lính thú, rồi lại được phục chức.
Về quân sự, ông dẹp nhiều cuộc nổi dậy như khởi nghĩa Phan Bá Vành (1827), Nông Văn Vân (1833). Về kinh tế, đóng góp lớn nhất của ông là công cuộc khẩn hoang, chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập nên hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) vào khoảng 1828–1829.
Năm 1848 ông cáo quan về hưu, sống đời ung dung tự tại, và mất năm 1858, thọ 80 tuổi. Về văn học, ông là nhà thơ tiêu biểu với thể ca trù (hát nói), nổi tiếng với triết lý 'chí làm trai', 'nợ tang bồng', và thái độ 'ngất ngưởng' khác đời. Thơ ông thể hiện một nhân cách mạnh mẽ, ngạo nghễ, vừa hành đạo vừa hưởng lạc, trở thành một trong những tiếng nói độc đáo nhất của văn học trung đại Việt Nam.
Nguồn: Wikipedia
Cuộc đời & sự nghiệp
tác phẩm sự kiện- 1778Sinh tại làng Quỳnh Côi, Thái Bình; quê gốc làng Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh
- 1819Đỗ Giải nguyên ở tuổi 41, bắt đầu ra làm quan dưới triều Nguyễn
- 1827Cầm quân dẹp khởi nghĩa Phan Bá Vành
- 1828Tổ chức khẩn hoang, đắp đê lấn biển, lập huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)
- 1833Tham gia dẹp cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân
- 1848Cáo quan về hưu
- 1858Qua đời tại quê nhà, thọ 80 tuổi
🏛️ Bối cảnh thời đại
Nguyễn Công Trứ sống trọn trong giai đoạn đầu của triều Nguyễn, phục vụ bốn đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức — thời kỳ nhà nước phong kiến tập quyền được củng cố nhưng xã hội đầy biến động với liên tiếp các cuộc khởi nghĩa nông dân, nạn đói, thiên tai và vỡ đê ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là bối cảnh thúc đẩy các chính sách khai khẩn, doanh điền mà ông là người thực thi xuất sắc.
Đó cũng là thời kỳ Nho học và chế độ khoa cử giữ vai trò chủ đạo, đề cao lý tưởng 'kẻ sĩ' và 'chí làm trai' lập công danh phò vua giúp nước. Tuy nhiên những thăng trầm trong hoạn lộ của ông phản ánh tính chuyên chế, khắc nghiệt của triều đình Minh Mạng, đồng thời nuôi dưỡng thái độ 'ngất ngưởng', tự do phóng khoáng đặc trưng trong thơ ca trù của ông.
Tác phẩm (1)
Tác phẩm tiêu biểu
Bài hát nói (ca trù) tiêu biểu nhất, thể hiện cá tính ngạo nghễ, tự do, sống vượt lên trên thói thường
Đề cao lý tưởng nam nhi lập công danh, gánh vác 'nợ tang bồng' với non sông
Bài hát nói khẳng định vai trò, phẩm giá và trách nhiệm của người trí thức Nho học
Bài phú tả cảnh nghèo của nhà nho với giọng điệu hài hước, chua xót mà khí phách
Mượn hình tượng cây thông để thể hiện khí tiết cứng cỏi, cô độc của kẻ sĩ
Tác giả cùng thời & mối liên hệ
Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.
Người cùng thời
Vị vua mà ông phục vụ và lập nhiều công lớn về quân sự, khẩn hoang, nhưng cũng nhiều phen bị thăng giáng
Vị vua khai sáng triều Nguyễn; Nguyễn Công Trứ ra làm quan vào cuối thời Gia Long
Đối thủ / bút chiến
Thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân mà Nguyễn Công Trứ được cử đi đánh dẹp năm 1827
Thủ lĩnh cuộc nổi dậy ở vùng núi phía Bắc bị ông tham gia đàn áp năm 1833