Trang chủTrần Tế Xương
T

Trần Tế Xương

Cổ đại· thơ trào phúng sắc bén, trữ tình

Tú Xương (1870–1907) — nhà thơ trào phúng trữ tình sắc sảo của đất Vị Hoàng, Nam Định.

1

Tác phẩm

0

Lượt đọc

0

Lượt thích

0

Theo dõi

7

Chương

Tiểu sử

🎂 Sinh 1870 · Số 247 phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định🕊️ Mất 1907 · Thành phố Nam Định; mất khi mới 36 tuổi

Trần Tế Xương, tên húy Trần Duy Uyên, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích và Tử Thịnh, thường được biết đến với bút danh Tú Xương. Ông sinh ngày 5 tháng 9 năm 1870 tại số 247 phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định, trong một dòng dõi nho gia. Cha là Trần Duy Nhuận, một nhà nho làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định.

Năm 16 tuổi ông lấy vợ là bà Phạm Thị Mẫn — chính là 'bà Tú' tảo tần buôn bán nuôi cả gia đình, hình tượng bất hủ trong thơ ông. Hai người có 8 người con.

Tú Xương lận đận khoa cử: ông đi thi tới 8 lần (từ khoa Bính Tuất 1886 đến khoa Bính Ngọ 1906) nhưng chỉ đỗ tú tài năm 1894, không tiến xa hơn được. Cảnh nhà nghèo túng — nhà bị cháy năm 1894 — càng tô đậm cái nghịch cảnh của một trí thức tài hoa mà bất đắc chí.

Ông mất sớm ngày 29 tháng 1 năm 1907, khi mới 36 tuổi. Tú Xương để lại di sản thơ trào phúng và trữ tình bằng chữ Nôm bậc nhất văn học Việt Nam. Thơ ông sắc bén châm biếm xã hội thực dân nửa phong kiến, đồng thời chan chứa tình cảm với vợ con và nỗi đau thời cuộc. Hậu thế tôn vinh ông rất cao: Nguyễn Công Hoan gọi là 'thần thơ thánh chữ', Xuân Diệu xếp ông vào hàng các đại thi hào dân tộc.

Nguồn: Wikipedia

Cuộc đời & sự nghiệp

tác phẩm sự kiện
  1. 1870Sinh ngày 5 tháng 9 tại phố Hàng Nâu, Nam Định
  2. 188616 tuổi, lấy vợ là bà Phạm Thị Mẫn; lần đầu đi thi (khoa Bính Tuất)
  3. 1894Đỗ tú tài khoa Giáp Ngọ; nhà số 247 bị cháy
  4. 1906Lần thi cuối cùng (khoa Bính Ngọ)
  5. 1907Qua đời ngày 29 tháng 1, mới 36 tuổi

🏛️ Bối cảnh thời đại

Tú Xương sống ở Nam Định thời Pháp thuộc, giai đoạn 1870–1907. Trước khi ông sinh, sáu tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp (1867); Bắc Kỳ và Nam Định bị tấn công các năm 1873, 1882; với các Hiệp ước Harmand (1883) và Patenôtre (1884), Pháp chính thức thiết lập nền đô hộ.

Xã hội Việt Nam khi ấy là một trật tự thực dân nửa phong kiến hỗn loạn: chế độ thi cử Nho học hấp hối, quan lại bản xứ hùa theo Pháp, dân chúng oằn mình dưới sưu thuế. Chính bối cảnh nhố nhăng 'Tây Tàu lẫn lộn' ấy là mảnh đất nuôi dưỡng tiếng cười trào phúng cay đắng và sâu sắc trong thơ Tú Xương.

Tác phẩm (1)

Tác phẩm tiêu biểu

Thương vợ

Bài thơ tôn vinh bà Tú tảo tần buôn bán nuôi chồng con

Vịnh khoa thi Hương

Châm biếm kỳ thi nhốn nháo, quan lại và buổi giao thời Pháp thuộc

Văn tế sống vợ

Bài văn tế tri ân, đề cao đạo nghĩa vợ chồng

Sông Lấp (Sông kia rày đã nên đồng)

Bài thơ trữ tình ngậm ngùi về sự đổi thay của thời cuộc và quê hương

Tác giả cùng thời & mối liên hệ

Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.

Ảnh hưởng

Tản Đàtrong thư viện

Tản Đà 'phục nhất Tú Xương', chịu ảnh hưởng thơ trào phúng của ông

Xuân Diệu

Xếp Tú Xương vào hàng các đại thi hào dân tộc trong lịch sử văn học

Nguyễn Công Hoan

Ca ngợi Tú Xương là 'thần thơ thánh chữ'

Người cùng thời

Nguyễn Khuyếntrong thư viện

Nhà thơ trào phúng lớn cùng thời, cùng vùng Nam Định - Hà Nam